Hiển thị các bài đăng có nhãn Goc-cua-con. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Goc-cua-con. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015


Nguyên tắc cơ bản của các chỉ số tăng trưởng cân nặng
- Trọng lượng của một em bé sinh đủ tháng bình thường khoảng 2,9 -3,8kg.
- Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng, mức tăng trung bình một tháng ít nhất 600 gram hoặc 125 gram mỗi tuần. Lớn hơn 6 tháng tuổi, bé tăng trung bình 500 gram/tháng...
- Trong năm thứ hai sinh, tốc độ tăng trưởng cân năng trung bình của trẻ là 2,5-3kg
- Sau 2 năm tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm là 2kg cho đến tuổi dậy thì.
Mẹo nhỏ khi cân con
- Khi đo trọng lượng cho các bé để chuẩn nhất mẹ nên đo sau khi bé đi tiểu hoặc đại tiện.
- Đừng quên trừ trọng lượng của quần áo và tã (khoảng 200-400 gram)
- Trong vòng một năm đầu mẹ nên cân bé mỗi tháng một lần.
- Các bé trai sẽ có cân nặng nhỉnh hơn bé gái.
Nguyên tắc cơ bản của các chỉ số tăng trưởng chiều cao
- Em bé mới sinh dài trung bình 50cm
- Chiều cao của bé phát triển nhanh nhất trong năm đầu tiên. Từ 1-6 tháng, mức tăng trung bình hàng tháng là 2,5 cm, 7-12 tháng tăng 1,5 cm/ tháng.
- Năm thứ 2, tốc độ tăng trưởng chiều dài của em bé bắt đầu chậm lại, tốc độ tăng trưởng mỗi năm chỉ được 10-12 cm.
- Từ 2 tuổi cho đến trước tuổi dậy thì, chiều cao của bé tăng bình quân 6-7 cm mỗi năm.
Mẹo nhỏ khi đo chiều cao con
- Luôn nhớ bỏ giày, mũ nón cho con trước khi đo
- Chiều cao của trẻ đo chính xác nhất vào buổi sáng.
- Bé dưới 3 tuổi có thể đo ở tư thế nằm ngửa
- Các bé trai sẽ có chiều cao nhỉnh hơn bé gái.
Hoặc các mẹ có thể xác định tình trạng cơ thể hiện tại của bé bằng cách tính một số chỉ số:
1. Tính chỉ số cơ thể KI:
Cách tính này sẽ cân đối giữa chiều cao và cân nặng, giúp mẹ lập cho bé chế độ ăn phù hợp với phát triển của bé. Chỉ số này dùng cho các bé từ 0 – 60 tháng.
KI = [Cân nặng (kg) /(chiều cao x chiều cao) (cm)] x 10.000
Dưới 13: Suy dinh dưỡng
Từ 13 – 15: hơi còi
Từ 15 – 19: bình thường
Từ 19 – 21: Hơi bụ
Trên 21: béo phì
2. Áng chừng lượng sữa con cần uống trong một ngày:
Lượng này bao gồm tất cả các loại sữa bột và sữa mẹ. Công thức này các mẹ có thể tham khảo cho bé dưới 12 tháng.
Lượng sữa bé cần 1 ngày = 150ml x số cân nặng (kg)
3. Số răng bé cần có theo tháng:
Từ 6 tháng bé phát triển đúng “nhịp” sẽ bắt đầu mọc 2 răng cửa.
Số răng = số tháng tuổi – 4
4. Tính lượng nước bé cần trong một ngày:
Lượng nước này bao gồm tất cả các loại nước bé uống: sữa, nước canh, nước hoa quả, nước lọc, v.v…
Đối với bé dưới 10kg: Số cân nặng x 100ml

Đối với bé  trên 10kg: {(10 x 100ml) + [(số cân nặng - 10) x 50ml] }
Mọc răng là giai đoạn khá đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ. Giai đoạn này đánh dấu sự “lớn khôn” của cơ thể trẻ để dần thích nghi với môi trường sống.
Mốc giai đoạn trẻ mọc răng
- Trẻ từ 6 tháng tuổi đã bắt đầu mọc răng sữa. Chiếc đầu tiên là răng cửa giữa, hàm dưới. Thời kỳ mọc răng sữa của bé bắt đầu trong khoảng từ 5 tháng đến 8 tháng tuổi.
- Việc mọc răng nhanh hay chậm vài tháng là điều hoàn toàn bình thường. Thậm chí, có trẻ sinh ra đã có sẵn 1 hoặc 2 chiếc răng rồi gọi là “răng sơ sinh”.
- Hai răng hàm thứ hai của hàm trên sẽ là những răng mọc cuối cùng. Răng thường mọc theo từng cặp, cụ thể như răng nanh hàm dưới ở bên phải và bên trái sẽ mọc cùng lúc. Răng hàm dưới thường mọc sớm hơn răng tương ứng ở hàm trên.
- Bộ răng sữa của trẻ gồm có tất cả 20 răng, 10 ở hàm trên và 10 ở hàm dưới.


Những dấu hiệu và biểu hiện gợi ý trẻ đang mọc răng
- Khi mọc răng, trẻ thường có một số “rối loạn” trong cơ thể, trẻ có thể mệt mỏi, quấy khóc, hay “mè nheo”, ít ngủ, dễ bị kích động khi mọc răng, như bứt rứt khó chịu trong người nên hay làm nũng cha mẹ.
- Một số trẻ hay bị chảy nhiều nước miếng và thường gặm thứ gì đó trong miệng cũng là những biểu hiện thường thấy. Khi dồn năng lượng cho việc mọc răng, sức bảo vệ cơ thể yếu đi nên trẻ dễ bị bệnh, bị rối loạn tiêu hóa. Vào thời kỳ này hoặc sớm hơn, trẻ thường bị sốt nhẹ và đôi khi kèm đi tiêu phân lỏng, dân gian thường gọi là “tướt mọc răng”.
- Trước khi răng nhú lên, nướu có thể bị sưng, viêm tấy đỏ, có khi bị loét. Nướu sưng đỏ làm trẻ luôn có cảm giác ngứa ngáy, khó chịu tại chỗ răng nhú lên, trẻ thường cho ngón tay, đồ chơi hay bất kỳ đồ vật gì có trong tay vào miệng để cắn, những triệu chứng này thường xảy ra trước khi răng nhú lên 3 – 5 ngày. .

Những chăm sóc cần thiết khi trẻ mọc răng
Nếu trong thời gian mọc răng sữa, trẻ sốt cao 38,50C trở lên và đau nhiều, có thể dùng paracetamol để hạ sốt và giảm đau, liều lượng 10-15 mg/kg cân nặng, cứ 4-6 giờ cho uống một lần. Không được để trẻ sốt quá cao. Nếu trẻ sốt nhẹ hơn thì không cần uống thuốc hạ sốt, chỉ cần lau ấm cho trẻ và cho uống thêm nước.
Trẻ mọc răng thường chảy nước miếng nhiều, thường đưa tay vô miệng cắn hoặc dùng lưỡi liếm vùng nướu phía trước. Cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng cho trẻ thật tốt. Thường xuyên lau sạch nước miếng chảy quanh miệng trẻ bằng khăn mềm sạch, làm sạch nướu sau khi cho trẻ bú hoặc ăn. Dùng một miếng gạc hoặc vải mềm nhúng nước sạch quấn quanh ngón tay lau thật nhẹ nhàng. Nên cho trẻ uống nước lọc sau khi bú hoặc sau khi cho trẻ ăn.
Chú ý cho trẻ uống nhiều nước. Điều này đặc biệt quan trọng vì tiêu chảy nhiều khiến trẻ dễ mất nước. Nên cho trẻ ăn các thức ăn lỏng, mềm để trẻ ăn uống dễ dàng hơn, thức ăn quá nóng hay quá lạnh đều không có lợi cho sự phát triển của răng trẻ. Ngoài ra cũng cần bổ sung thêm cho trẻ hàm lượng canxi trong thành phần các bữa ăn hàng ngày.
Ths BS Đinh Thạc.
Trẻ nhũ nhi (dưới 1-2 tuổi) khóc rất khó biết lý do vì trẻ không thể nói tại sao. Bạn có thể lo lắng: “Làm sao biết trẻ muốn gì ?” Đầu tiên rất khó giải quyết, cha mẹ lúng túng và có thể thắc sai lầm khi can thiệp nhưng sau đó thì biết cách dự trù những nhu cầu của trẻ và biết cách dỗ trẻ
Những nguyên nhân thông thường:
   1. Trẻ đói:  Trẻ quấy khóc, làm huyên náo, ầm ĩ, thường tìm vú mẹ khi mẹ bồng, có thể cho trẻ ăn trước khi trẻ thật sự khóc. Khi trẻ khóc, điều đầu tiên xem trẻ có đói không? Thức ăn không làm trẻ ngưng khóc ngay do đó để cho trẻ ăn đến no, khi đó trẻ sẽ hết khóc.
   2. Tả ướt hoặc dơ:  Một số trẻ sẽ khóc khi tả dơ, ướt làm lạnh, kích thích gây khó chịu cho trẻ. Do đó, cần chú ý thay tả trẻ: trẻ thích ấm và thoải mái.
   3. Quá lạnh hoặc qúa nóng:  Trẻ thích được ủ ấm (như là quy luật lúc nằm trong dạ con của mẹ). Khi trẻ cảm thấy lạnh, trẻ sẽ khóc và ngưng khóc khi được thay tả và ủ ấm. Đôi khi quấn nhiều đổ cho trẻ, dễ gây nóng qúa, trẻ cũng khóc. Tùy theo điều kiện thời tiết, bạn sẽ mặc đồ và quấn ấm cho trẻ thích hợp
   4. Trẻ đòi bồng:  Trẻ thích được nâng niu, nhìn mặt bố mẹ, lắng nghe giọng nói, nhịp tim của mẹ thậm chí thích mùi của mẹ (đặc biệt mùi sữa mẹ). Sau khi được cho ăn và ợ hơi trẻ thường thích được bồng. Bạn tự hỏi làm như vậy sẽ làm hư trẻ ? Tuy nhiên điều này, chỉ xảy ra trong vài tháng đầu của cuộc sống trẻ.
   5. Trẻ bị quá tải hoạt động:  Trẻ thích được chú ý. Bạn sẽ thấy trẻ khóc lâu hơn bình thường sau khi đi nghỉ mát với nhiều thành viên trong gia đình. Trẻ cũng có những khoảng thời gian trong ngoài khóc không rõ lý do. Có lẽ trẻ đã nhận nhiều kích thích như ánh sáng, tiếng ồn, nhiều người bồng bế và trở nên qúa tải với nhiều hoạt động. Trẻ khóc như muốn nói: “đủ rồi”. Trẻ thường biểu hiện mệt. Có thể giữ yên trẻ và để dưới quạt thoáng hoặc cho trẻ nằm ngủ.
   6. Trẻ không được khoẻ:  Trẻ quấy khóc, cào nhào. Bạn cho ăn và kiểm tra trẻ có khỏe không ? Trẻ vẫn khóc, thân nhiệt bình thường hoặc sốt, tiếng khóc của trẻ bệnh khác với tiếng khóc bình thường, trẻ khóc thét có thể đau bụng (lồng ruột), có thể nhức đầu (xuất huyết não) hoặc cơn khóc dạ đề (khóc đêm) do hạ calci máu. Đôi khi trẻ khóc do côn trùng cắn (kiến, bọ chét). Cần đưa trẻ đi bác sĩ.
   7. Không phải các nguyên nhân trên:  Có thể cơn khóc co thắt (colic) được định nghĩa là khóc không dỗ được nhất 3 giờ/ ngày và ít nhất 3 ngày/ tuần. 
                                 Những biện pháp cần làm để dỗ trẻ: 
   - Giữ ấm trẻ, nhưng không quấn kín.
   - Cho trẻ nghe nhạc nhẹ, bởi vì trẻ thường nghe nhịp tim của mẹ hoặc nghe những bài hát ru.
   - Cho trẻ hoạt động: thường để trong chiếc xe tập đi, có khi để trên một chiếc ghế hoặc võng lắc tần số 60 – 100 lần/phút
   - Đôi khi gãi lưng hoặc xoa bụng để vỗ trẻ đặc biệt ở trẻ có đánh hơi, đau bụng.
   - Cha mẹ nên chú ý rằng không có trẻ nào khóc mà chết, nhưng trẻ khóc có thể làm khó chịu cho những cặp vợ chồng trẻ. Bạn sẽ mất ngủ và cơ thể không đảm bảo chăm sóc trẻ.
   Tình cảm của mẹ thường chịu đựng được hết các vấn đề này nhưng bố thì không thể bởi vì ông ta không có được sự quan tâm như bà mẹ.
   Một trẻ khóc có thể làm cho nhiều bậc cha mẹ trở nên bất lực. Đôi khi giận dữ với trẻ và có thể “ra đòn” với trẻ. Hãy bình tĩnh!
Nếu bạn biết nhu cầu của trẻ được đáp ứng và bạn cố gắng dỗ trẻ nhưng trẻ vẫn khóc và trẻ không có vấn đề nghiêm trọng cần đi bác sĩ (nguyên nhân 6). Bạn hãy hành động:
   - Đặt trẻ xuống và để cho trẻ khóc một thời gian.
   - Gọi điện cho một người bạn hay người thân xin lời khuyên.

   - Bạn hãy nghĩ ngơi một giây lát, để người khác chăm sóc
   - Mở nhạc nhẹ để khuây khỏa.
   - Hít một hơi thật sâu.
   - Bạn hãy nhớ rằng, không có vấn đề gì đối với trẻ và việc khóc không làm tổn hại đến trẻ
   - Bạn hãy tự nhắc nhở mình: trẻ sẽ tự vượt qua giai đoạn này.
BS Nguyễn Minh Tiến                                                        
Nguồn: Dịch từ  “Seven reasons babies cry and how to soothe them” by Nancy Showen, M.D