Hiển thị các bài đăng có nhãn Con-khoe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con-khoe. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Nhiệt độ cơ thể của trẻ sơ sinh thường thấp hơn người lớn. Cơ chế điều hòa thân nhiệt của bé cũng chưa hoạt động tốt như người trưởng thành, nên bố mẹ và người chăm sóc bé cần chú ý không để con bị nóng hay lạnh quá mức
Đo nhiệt độ của trẻ sơ sinh
Mặc dù có thể nhận biết sự thay đổi thân nhiệt của con thông qua xúc giác, khi trong nhà có một bé mới sinh, tốt nhất bố mẹ cần chuẩn bị dụng cụ đo nhiệt độ cho trẻ trong nhà để có thể theo dõi chính xác. Có rất nhiều loại nhiệt kế từ cổ điển cho đến hiện đại giúp bạn nắm bắt nhanh chóng thân nhiệt của con. Nhiệt kế thủy ngân là loại phổ biến nhất, có giá rẻ và độ chính xác cao.
Nhiệt kế thủy ngân là công cụ phổ biến nhất để đo nhiệt độ của trẻ sơ sinh
Nhiệt độ bình thường của trẻ sơ sinh là 36,5  đến 37,5 độ C. Bạn có thể lấy nhiệt độ ở nách, ở hậu môn hay ở tai của bé.
-Khi lấy thân nhiệt ở nách: mẹ đặt nhiệt kế trong khoảng 2 phút, lấy kết quả cộng thêm 0,5 độ. Ví dụ: nhiệt độ ở nách là 36,5 độ C thì nhiệt độ của bé là 37 độ C.
-Nếu lấy nhiệt độ ở hậu môn: Mẹ nhẹ nhàng đặt nhiệt kế ở hậu môn trong 1 phút, nhiệt độ ở hậu môn chính là thân nhiệt của bé.
-Lấy thân nhiệt ở tai: Mẹ cần cộng thêm 0,3 độ nếu đo ở vị trí này.

Sự thay đổi thân nhiệt của bé
Nhiệt độ của bé rất dễ biến động do môi trường bên ngoài. Bé có thể bị mất nhiệt hoặc tăng nhiệt nhanh chóng. Đặc biệt, nếu bé sinh non và nhẹ cân sẽ không có đủ lớp mỡ dưới da để cách nhiệt, dễ bị mất nhiệt. Tương tự, những mắc bệnh về phổi cũng dễ bị hạ thân nhiệt. Hiện tượng mất nhiệt có thể xảy ra ngay cả trong mùa hè.
Với những bé được ủ ấm quá kỹ thì dễ xảy ra tình trạng ngược lại: bé bị nóng bức, tăng thân nhiệt, vã mồ hôi và trở nên bứt rứt, khó chịu. Nhiệt độ cơ thể còn tăng cao do bị nhiễm trùng hoặc bệnh lý nào đó.
Xử lý thân nhiệt bất thường
Không khó để mẹ nhận ra con mình đang nóng hay lạnh. Bằng cách kiểm tra chân, tay, mẹ sẽ nhanh chóng biét  được con đang bị lạnh. Khi bé nóng, không chỉ mồ hôi mà đôi môi đỏ và khô hơn thường lệ cũng là một chỉ báo rõ ràng để mẹ nhận biết. Tùy theo từng trường hợp, mẹ sẽ đưa ra những bước xử lý thích hợp nhé.
- Nếu nhiệt độ của bé thấp hơn 36,5 độ C thì bạn cần ủ ấm ngay cho trẻ sơ sinh.
- Nếu nhiệt độ cơ thể cao hơn  37,5 độ C, bé đang bị nóng. Mẹ nên để bé ở nơi thoáng mát, bỏ bớt chăn cũng như quần áo dày, lau mát, cho trẻ bú nhiều hơn, uống thêm nước nếu cần và theo dõi nhiệt độ cho trẻ.

- Nếu nhiệt độ cao hơn 38 độ C nghĩa là trẻ đang bị sốt. Mẹ cần lau mát ngay và dùng thuốc hạ sốt và sớm đưa trẻ đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Tiêm vaccine là hành động giúp tạo ra miễn dịch chủ động cho trẻ, để trẻ phòng tránh bệnh. Tuy nhiên, vaccine có thể gây ra một số phản ứng không mong muốn và trong nhiều trường hợp nguy cơ này tăng cao. Do đó, trong một số trường hợp các bố mẹ không nên cho bé đi tiêm.Theo GS. TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ, không có loại vắc-xin nào tuyệt đối an toàn 100%. Tiêm vắc-xin là đưa vào cơ thể một kháng nguyên, kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch chủ động để dự phòng bệnh. Tùy theo cơ địa và thể trạng của mỗi trẻ mà có thể gặp hoặc không gặp những phản ứng phụ không mong muốn sau khi tiêm vaccine.Theo thống kê của các chuyên gia nhi khoa thì cứ 1 trong 4 trẻ tiêm vắc-xin sẽ có những biểu hiện phản ứng phụ với thuốc. Những biểu hiện thường gặp có thể là sốt, sưng tấy, sưng phồng…trên da.
Khi nào không nên tiêm phòng cho trẻ?
- Không nên tiêm phòng cho trẻ khi trẻ đang sốt, trẻ đang mắc 1 bệnh nhiễm khuẩn cấp tính (viêm phổi, thương hàn, sởi ...), trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, còn đang trong thời kỳ hồi sức, trẻ đang bị viêm da mủ, hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma)...
- Không nên tiêm phòng đối với những trẻ đang mắc một bệnh mãn tính đang tiến triển như lao phổi tiến triển, tràn dịch màng phổi..., nhất là những trẻ đang mắc bệnh thận mãn tính...
- Tiêm phòng viêm gan B: Trước khi được tiêm chủng, trẻ cần được bác sĩ thăm khám trước. Trẻ chỉ được tiêm vắc-xin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau khi sinh khi đã bú tốt. Đối với những trẻ đẻ non, cân nặng thấp, trẻ bị đẻ khó, mẹ bị sốt trước, sau khi sinh, nước ối bẩn, con bị ngạt, thai già tháng, trẻ dị tật… cần được thăm khám cẩn thận để tránh các trường hợp trùng hợp ngẫu nhiên. Đối với những trẻ đang bị ốm, sốt, mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính thì cần được hoãn tiêm".
- Tiêm phòng lao: nên tránh cho các trẻ sinh non còn quá yếu, quá thiếu cân; các trẻ đang bị bệnh cấp tính; các trẻ đang bị bệnh ngoài da lan rộng, đang tiến triển.
- Tiêm phòng Bạch hầu, uốn ván, ho gà: Trong trường hợp trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn, sốt cao, rối loạn thần kinh (co giật, viêm não và các bệnh về não)… không nên tiêm.
- Tiêm phòng sởi: nên tránh cho các trẻ đang bị ung thư máu, các trẻ đang bị suy dinh dưỡng rất trầm trọng, các trẻ đang phải chữa bệnh bằng các loại thuốc corticoid ...
- Tiêm phòng thương hàn: nên tránh cho các trẻ đang bị bệnh ở thận, đang bị tiểu đường, hoặc đang trong 1 tình trạng có hiện tượng dị ứng trầm trọng ...
- Tiêm phòng bại liệt: Tuyệt đối không được cho uống vắc-xin phòng bại liệt khi trẻ đang bị sốt, bị nôn, tiêu chảy, đang điều trị thuốc corticoid, mắc bệnh ác tính (u lympho, bạch cầu cấp…) hoặc bị nhiễm HIV.
- Tiêm phòng viêm não Nhật Bản: Không được tiêm khi trẻ đang sốt cao, mắc bệnh tim, thận, gan, đái tháo đường, đang mắc bệnh ung thư máu và nhất là trẻ đã từng bị dị ứng với vắc-xin phòng bệnh viêm não Nhật Bản.
Ngoài những vắc-xin phòng các bệnh trên còn có nhiều loại khác như: thủy đậu, quai bị, cúm, viêm màng não… Tuy nhiên, để tiêm vắc-xin phòng bệnh được an toàn và hiệu quả, tốt nhất trước khi tiêm nên tham khảo ý kiến bác sĩ và hỏi rõ về thời điểm tiêm vắc-xin.
Lưu ý gì khi tiêm phòng cho trẻ?
Trước khi tiêm:
- Không cho trẻ ăn, bú quá no, tuy nhiên cũng không để trẻ đói để tránh tình trạng trẻ bị hạ đường huyết sau khi tiêm;
- Vệ sinh thân thể sạch sẽ để hạn chế nhiễm trùng.
- Khi tiêm phòng, cần cho trẻ mặc trang phục đơn giản để giúp bác sĩ dễ thao tác trong quá trình khám, không mặc quần áo quá bó chặt, ủ ấm quá nhiều;
- Chuẩn bị đủ hồ sơ sức khỏe của bé, đặc biệt là sổ tiêm chủng trước đó;
- Trước khi tiêm nên trao đổi với bác sĩ những biểu hiện sức khỏe của trẻ, có bị suy dinh dưỡng, có mắc bệnh cấp tính (như sốt, viêm phổi, viêm phế quản...), tiền sử bệnh tật, dị ứng với thuốc, hóa chất, thức ăn... để giảm đi những phản ứng bất lợi cho trẻ’;
- Mũi tiêm trước cùng loại đấy bé có bị dị ứng, mẩn đỏ, sốt không. Nếu có thì trao đổi với bác sĩ để chuyển vắcxin khác cũng có tác dụng tương tự.
                               Cần theo dõi trẻ trước, trong và sau khi tiêm vaccine
Sau khi tiêm:
- Ngồi lại theo dõi 15-30 phút, xem có dị ứng với thuốc không.
- Theo dõi khi trẻ về nhà: Theo dõi xem trẻ có sốt không, biểu hiện bên ngoài da, cử chỉ, quấy khóc, bú mẹ có bình thường không, đi ngoài thế nào. Đặc biệt là với những trẻ tiêm lần đầu khi ở 2 tháng tuổi, tiêm mũi đầu tiên và tiêm vắc-xin 5 trong 1.
- Cha mẹ nên chườm mát nơi tiêm (không chườm nóng), cho trẻ uống nhiều nước, bú mẹ nhiều hơn, mặc đồ thoáng.
- Trẻ sốt nhẹ sốt 37-38 độ C thì có thể dùng các biện pháp làm mát, hạ nhiệt, thuốc hạ sốt đặt hậu môn. Nếu sốt trên 38 độ thì dùng thuốc hạ sốt, tác dụng nhanh hơn.
- Phản ứng sau tiêm có nhiều loại: thường gặp, ít gặp, hiếm gặp và rất hiếm gặp. Đa phần các phản ứng sau tiêm đều xảy ra với các loại văc-xin khác nhau. Phản ứng tại chỗ tiêm có thể là sưng, đau, khó chịu, mệt mỏi, có thể sốt nhẹ, phản ứng gần như xảy ra ở các loại văc-xin, phản ứng thông thường.
- Nếu trẻ có biểu hiện bất thường sau tiêm, cha mẹ có thể liên hệ với nhân viên tư vấn hoặc cán bộ y tế xã để được tư vấn. 
- Sau tiêm, trẻ có thể sốt nhưng nếu bình thường thì chỉ sốt một ngày, nhiều lắm là 2 ngày. Nếu trẻ sốt cao hơn 2 ngày thì cha mẹ nên thận trọng, có thể đưa trẻ đến bệnh viện để được cấp cứu và điều trị kịp thời. 
- Một số biểu hiện nặng sau tiêm chủng: sốt cao trên 39 độ C, co giật, chân tay lạnh, tím tái, khó thở, quấy khóc, không đáp ứng thuốc hạ sốt thông thường, bỏ bú, sưng to, đỏ quanh chỗ tiêm... Khi đó, cha mẹ cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện.
Tiêm vaccine giúp tạo ra miễn dịch chủ động để trẻ phòng tránh bệnh tật

A, Lịch tiêm chủng tại Bệnh viên Nhi Trung ương - Hà Nội

B, Lịch tiêm chủng tại bệnh viện Nhi Đồng 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
1, Chương trình tiêm ngừa Quốc gia


2, Lịch tiêm theo yêu cầu :


1. Viêm màng não mũ và các nhiễm trùng do Hib- Từ 2 - 6 tháng tuổi: 3 liều liên tiếp cách 1 đến 2 tháng, nhắc lại 1 liều lúc trẻ 16- 18 tháng.
- Từ 6-12 tháng tuổi: 2 liều liên tiếp cách nhau 1 đến 2 tháng, 12 tháng sau liều 2 nhắc lại 1 liều.
- Trẻ trên 12 tháng tuổi: 1 liều duy nhất

2. Viêm não Nhật Bản
- Lần 1: Từ lúc 12 tháng tuổi

- Lần 2: Cách lần 1 từ 1 đến 2 tuần
- Lần 3: Cách lần 1: 1 năm sauNhắc: 1 liều mỗi 3 năm

3. Viêm màng não do não mô cầu A+C
- Lần 1: Từ lúc 24 tháng tuổi

- Nhắc: 1 liều mỗi 3 năm 

4. Thủy đậu (trái rạ)
- Bắt đầu lúc trẻ 12 tháng tuổi

- Tùy theo tuổi và loại thuốc tiêm, trẻ sẽ được tiêm 1 hoặc 2 liều

5. Sởi, Quai bị, Rubella
- Lần 1: Từ 12 - 15 tháng tuổi

- Lần 2: Cách lần 1 từ 3 đến 6 năm sau

6. Cúm
- Lần 1: Từ lúc 6 tháng tuổi (nếu trước đây chưa tiêm ngừa cúm thì tiêm liều thứ hai cách liều thứ nhất 4 tuần).

- Nhắc: 1 liều mỗi năm

7. Viêm gan siêu vi A- Lần 1: Từ lúc 12 tháng tuổi
- Lần 2: Cách lần 1 từ 6 đến 18 tháng

8. Thương hàn
Lần 1: Từ lúc 24 tháng tuổi

Nhắc : 1 liều mỗi 3 năm

9. Tiêu chảy do Rotavirus
- Lần 1 : Từ 6 tuần tuổi

- Lần 2 : Cách lần 1 ít nhất 1 tháng (không sử dụng cho trẻ > 6 tháng)






Nguyên tắc cơ bản của các chỉ số tăng trưởng cân nặng
- Trọng lượng của một em bé sinh đủ tháng bình thường khoảng 2,9 -3,8kg.
- Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng, mức tăng trung bình một tháng ít nhất 600 gram hoặc 125 gram mỗi tuần. Lớn hơn 6 tháng tuổi, bé tăng trung bình 500 gram/tháng...
- Trong năm thứ hai sinh, tốc độ tăng trưởng cân năng trung bình của trẻ là 2,5-3kg
- Sau 2 năm tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm là 2kg cho đến tuổi dậy thì.
Mẹo nhỏ khi cân con
- Khi đo trọng lượng cho các bé để chuẩn nhất mẹ nên đo sau khi bé đi tiểu hoặc đại tiện.
- Đừng quên trừ trọng lượng của quần áo và tã (khoảng 200-400 gram)
- Trong vòng một năm đầu mẹ nên cân bé mỗi tháng một lần.
- Các bé trai sẽ có cân nặng nhỉnh hơn bé gái.
Nguyên tắc cơ bản của các chỉ số tăng trưởng chiều cao
- Em bé mới sinh dài trung bình 50cm
- Chiều cao của bé phát triển nhanh nhất trong năm đầu tiên. Từ 1-6 tháng, mức tăng trung bình hàng tháng là 2,5 cm, 7-12 tháng tăng 1,5 cm/ tháng.
- Năm thứ 2, tốc độ tăng trưởng chiều dài của em bé bắt đầu chậm lại, tốc độ tăng trưởng mỗi năm chỉ được 10-12 cm.
- Từ 2 tuổi cho đến trước tuổi dậy thì, chiều cao của bé tăng bình quân 6-7 cm mỗi năm.
Mẹo nhỏ khi đo chiều cao con
- Luôn nhớ bỏ giày, mũ nón cho con trước khi đo
- Chiều cao của trẻ đo chính xác nhất vào buổi sáng.
- Bé dưới 3 tuổi có thể đo ở tư thế nằm ngửa
- Các bé trai sẽ có chiều cao nhỉnh hơn bé gái.
Hoặc các mẹ có thể xác định tình trạng cơ thể hiện tại của bé bằng cách tính một số chỉ số:
1. Tính chỉ số cơ thể KI:
Cách tính này sẽ cân đối giữa chiều cao và cân nặng, giúp mẹ lập cho bé chế độ ăn phù hợp với phát triển của bé. Chỉ số này dùng cho các bé từ 0 – 60 tháng.
KI = [Cân nặng (kg) /(chiều cao x chiều cao) (cm)] x 10.000
Dưới 13: Suy dinh dưỡng
Từ 13 – 15: hơi còi
Từ 15 – 19: bình thường
Từ 19 – 21: Hơi bụ
Trên 21: béo phì
2. Áng chừng lượng sữa con cần uống trong một ngày:
Lượng này bao gồm tất cả các loại sữa bột và sữa mẹ. Công thức này các mẹ có thể tham khảo cho bé dưới 12 tháng.
Lượng sữa bé cần 1 ngày = 150ml x số cân nặng (kg)
3. Số răng bé cần có theo tháng:
Từ 6 tháng bé phát triển đúng “nhịp” sẽ bắt đầu mọc 2 răng cửa.
Số răng = số tháng tuổi – 4
4. Tính lượng nước bé cần trong một ngày:
Lượng nước này bao gồm tất cả các loại nước bé uống: sữa, nước canh, nước hoa quả, nước lọc, v.v…
Đối với bé dưới 10kg: Số cân nặng x 100ml

Đối với bé  trên 10kg: {(10 x 100ml) + [(số cân nặng - 10) x 50ml] }
Mọc răng là giai đoạn khá đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ. Giai đoạn này đánh dấu sự “lớn khôn” của cơ thể trẻ để dần thích nghi với môi trường sống.
Mốc giai đoạn trẻ mọc răng
- Trẻ từ 6 tháng tuổi đã bắt đầu mọc răng sữa. Chiếc đầu tiên là răng cửa giữa, hàm dưới. Thời kỳ mọc răng sữa của bé bắt đầu trong khoảng từ 5 tháng đến 8 tháng tuổi.
- Việc mọc răng nhanh hay chậm vài tháng là điều hoàn toàn bình thường. Thậm chí, có trẻ sinh ra đã có sẵn 1 hoặc 2 chiếc răng rồi gọi là “răng sơ sinh”.
- Hai răng hàm thứ hai của hàm trên sẽ là những răng mọc cuối cùng. Răng thường mọc theo từng cặp, cụ thể như răng nanh hàm dưới ở bên phải và bên trái sẽ mọc cùng lúc. Răng hàm dưới thường mọc sớm hơn răng tương ứng ở hàm trên.
- Bộ răng sữa của trẻ gồm có tất cả 20 răng, 10 ở hàm trên và 10 ở hàm dưới.


Những dấu hiệu và biểu hiện gợi ý trẻ đang mọc răng
- Khi mọc răng, trẻ thường có một số “rối loạn” trong cơ thể, trẻ có thể mệt mỏi, quấy khóc, hay “mè nheo”, ít ngủ, dễ bị kích động khi mọc răng, như bứt rứt khó chịu trong người nên hay làm nũng cha mẹ.
- Một số trẻ hay bị chảy nhiều nước miếng và thường gặm thứ gì đó trong miệng cũng là những biểu hiện thường thấy. Khi dồn năng lượng cho việc mọc răng, sức bảo vệ cơ thể yếu đi nên trẻ dễ bị bệnh, bị rối loạn tiêu hóa. Vào thời kỳ này hoặc sớm hơn, trẻ thường bị sốt nhẹ và đôi khi kèm đi tiêu phân lỏng, dân gian thường gọi là “tướt mọc răng”.
- Trước khi răng nhú lên, nướu có thể bị sưng, viêm tấy đỏ, có khi bị loét. Nướu sưng đỏ làm trẻ luôn có cảm giác ngứa ngáy, khó chịu tại chỗ răng nhú lên, trẻ thường cho ngón tay, đồ chơi hay bất kỳ đồ vật gì có trong tay vào miệng để cắn, những triệu chứng này thường xảy ra trước khi răng nhú lên 3 – 5 ngày. .

Những chăm sóc cần thiết khi trẻ mọc răng
Nếu trong thời gian mọc răng sữa, trẻ sốt cao 38,50C trở lên và đau nhiều, có thể dùng paracetamol để hạ sốt và giảm đau, liều lượng 10-15 mg/kg cân nặng, cứ 4-6 giờ cho uống một lần. Không được để trẻ sốt quá cao. Nếu trẻ sốt nhẹ hơn thì không cần uống thuốc hạ sốt, chỉ cần lau ấm cho trẻ và cho uống thêm nước.
Trẻ mọc răng thường chảy nước miếng nhiều, thường đưa tay vô miệng cắn hoặc dùng lưỡi liếm vùng nướu phía trước. Cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng cho trẻ thật tốt. Thường xuyên lau sạch nước miếng chảy quanh miệng trẻ bằng khăn mềm sạch, làm sạch nướu sau khi cho trẻ bú hoặc ăn. Dùng một miếng gạc hoặc vải mềm nhúng nước sạch quấn quanh ngón tay lau thật nhẹ nhàng. Nên cho trẻ uống nước lọc sau khi bú hoặc sau khi cho trẻ ăn.
Chú ý cho trẻ uống nhiều nước. Điều này đặc biệt quan trọng vì tiêu chảy nhiều khiến trẻ dễ mất nước. Nên cho trẻ ăn các thức ăn lỏng, mềm để trẻ ăn uống dễ dàng hơn, thức ăn quá nóng hay quá lạnh đều không có lợi cho sự phát triển của răng trẻ. Ngoài ra cũng cần bổ sung thêm cho trẻ hàm lượng canxi trong thành phần các bữa ăn hàng ngày.
Ths BS Đinh Thạc.
Trẻ nhũ nhi (dưới 1-2 tuổi) khóc rất khó biết lý do vì trẻ không thể nói tại sao. Bạn có thể lo lắng: “Làm sao biết trẻ muốn gì ?” Đầu tiên rất khó giải quyết, cha mẹ lúng túng và có thể thắc sai lầm khi can thiệp nhưng sau đó thì biết cách dự trù những nhu cầu của trẻ và biết cách dỗ trẻ
Những nguyên nhân thông thường:
   1. Trẻ đói:  Trẻ quấy khóc, làm huyên náo, ầm ĩ, thường tìm vú mẹ khi mẹ bồng, có thể cho trẻ ăn trước khi trẻ thật sự khóc. Khi trẻ khóc, điều đầu tiên xem trẻ có đói không? Thức ăn không làm trẻ ngưng khóc ngay do đó để cho trẻ ăn đến no, khi đó trẻ sẽ hết khóc.
   2. Tả ướt hoặc dơ:  Một số trẻ sẽ khóc khi tả dơ, ướt làm lạnh, kích thích gây khó chịu cho trẻ. Do đó, cần chú ý thay tả trẻ: trẻ thích ấm và thoải mái.
   3. Quá lạnh hoặc qúa nóng:  Trẻ thích được ủ ấm (như là quy luật lúc nằm trong dạ con của mẹ). Khi trẻ cảm thấy lạnh, trẻ sẽ khóc và ngưng khóc khi được thay tả và ủ ấm. Đôi khi quấn nhiều đổ cho trẻ, dễ gây nóng qúa, trẻ cũng khóc. Tùy theo điều kiện thời tiết, bạn sẽ mặc đồ và quấn ấm cho trẻ thích hợp
   4. Trẻ đòi bồng:  Trẻ thích được nâng niu, nhìn mặt bố mẹ, lắng nghe giọng nói, nhịp tim của mẹ thậm chí thích mùi của mẹ (đặc biệt mùi sữa mẹ). Sau khi được cho ăn và ợ hơi trẻ thường thích được bồng. Bạn tự hỏi làm như vậy sẽ làm hư trẻ ? Tuy nhiên điều này, chỉ xảy ra trong vài tháng đầu của cuộc sống trẻ.
   5. Trẻ bị quá tải hoạt động:  Trẻ thích được chú ý. Bạn sẽ thấy trẻ khóc lâu hơn bình thường sau khi đi nghỉ mát với nhiều thành viên trong gia đình. Trẻ cũng có những khoảng thời gian trong ngoài khóc không rõ lý do. Có lẽ trẻ đã nhận nhiều kích thích như ánh sáng, tiếng ồn, nhiều người bồng bế và trở nên qúa tải với nhiều hoạt động. Trẻ khóc như muốn nói: “đủ rồi”. Trẻ thường biểu hiện mệt. Có thể giữ yên trẻ và để dưới quạt thoáng hoặc cho trẻ nằm ngủ.
   6. Trẻ không được khoẻ:  Trẻ quấy khóc, cào nhào. Bạn cho ăn và kiểm tra trẻ có khỏe không ? Trẻ vẫn khóc, thân nhiệt bình thường hoặc sốt, tiếng khóc của trẻ bệnh khác với tiếng khóc bình thường, trẻ khóc thét có thể đau bụng (lồng ruột), có thể nhức đầu (xuất huyết não) hoặc cơn khóc dạ đề (khóc đêm) do hạ calci máu. Đôi khi trẻ khóc do côn trùng cắn (kiến, bọ chét). Cần đưa trẻ đi bác sĩ.
   7. Không phải các nguyên nhân trên:  Có thể cơn khóc co thắt (colic) được định nghĩa là khóc không dỗ được nhất 3 giờ/ ngày và ít nhất 3 ngày/ tuần. 
                                 Những biện pháp cần làm để dỗ trẻ: 
   - Giữ ấm trẻ, nhưng không quấn kín.
   - Cho trẻ nghe nhạc nhẹ, bởi vì trẻ thường nghe nhịp tim của mẹ hoặc nghe những bài hát ru.
   - Cho trẻ hoạt động: thường để trong chiếc xe tập đi, có khi để trên một chiếc ghế hoặc võng lắc tần số 60 – 100 lần/phút
   - Đôi khi gãi lưng hoặc xoa bụng để vỗ trẻ đặc biệt ở trẻ có đánh hơi, đau bụng.
   - Cha mẹ nên chú ý rằng không có trẻ nào khóc mà chết, nhưng trẻ khóc có thể làm khó chịu cho những cặp vợ chồng trẻ. Bạn sẽ mất ngủ và cơ thể không đảm bảo chăm sóc trẻ.
   Tình cảm của mẹ thường chịu đựng được hết các vấn đề này nhưng bố thì không thể bởi vì ông ta không có được sự quan tâm như bà mẹ.
   Một trẻ khóc có thể làm cho nhiều bậc cha mẹ trở nên bất lực. Đôi khi giận dữ với trẻ và có thể “ra đòn” với trẻ. Hãy bình tĩnh!
Nếu bạn biết nhu cầu của trẻ được đáp ứng và bạn cố gắng dỗ trẻ nhưng trẻ vẫn khóc và trẻ không có vấn đề nghiêm trọng cần đi bác sĩ (nguyên nhân 6). Bạn hãy hành động:
   - Đặt trẻ xuống và để cho trẻ khóc một thời gian.
   - Gọi điện cho một người bạn hay người thân xin lời khuyên.

   - Bạn hãy nghĩ ngơi một giây lát, để người khác chăm sóc
   - Mở nhạc nhẹ để khuây khỏa.
   - Hít một hơi thật sâu.
   - Bạn hãy nhớ rằng, không có vấn đề gì đối với trẻ và việc khóc không làm tổn hại đến trẻ
   - Bạn hãy tự nhắc nhở mình: trẻ sẽ tự vượt qua giai đoạn này.
BS Nguyễn Minh Tiến                                                        
Nguồn: Dịch từ  “Seven reasons babies cry and how to soothe them” by Nancy Showen, M.D